Slogan

CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ TOÀN THÂN

Hiện nay, khoảng 1/3 số bệnh nhân ung thư khi được khám phát hiện, bệnh còn ở giai đoạn tại chỗ, chưa có di căn xa, nên có thể chỉ cần điều trị bằng các phương pháp tại chỗ - tại vùng như phẫu thuật hay tia xạ. Nhưng khoảng 2/3 số bệnh nhân ung thư khi phát hiện  được đã ở giai đoạn muộn, đã có di căn xa hay khả nghi đã có di căn tiềm tàng (gọi là vi di căn) mà trên lâm sàng chưa thấy được, những trường hợp này cần có những phương pháp điều trị toàn thân, đó là: Điều trị hoá chất (Chemotherapy), điều trị nội tiết (Hormonotherapy) và điều trị miễn dịch (Immunotherapy).

Lịch sử của phương pháp điều trị toàn thân đã có từ lâu, được ghi lại trong y văn từ thời cổ Hy Lạp và Ai Cập bằng việc sử dụng các muối Arsen điều trị các bệnh máu ác tính. Năm 1895, Beatson đã mô tả việc cắt bỏ tuyến nội tiết (buồng trứng) làm thoái lui một số ung thư vú ở phụ nữ. Phương pháp điều trị toàn thân được phát triển từ năm 1940 và đến nay đã trở thành một phương pháp được áp dụng rộng rãi trong điều trị ung thư. Quan niệm về điều trị hoá chất cũng thay đổi từ điều trị các giai đoạn muộn sang xu hướng điều trị phòng ngừa hay hỗ trợ. Nhờ đó trong vòng 2 thập kỷ qua, điều trị hoá chất kết hợp với phẫu thuật, xạ trị đã cải thiện và điều trị khỏi nhiều loại bệnh ung thư.

1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ TÍNH HIỆU QUẢ

1.1. Tổng thể tích khối u

Mỗi liều thuốc chống ung thư nhất định sẽ chỉ diệt được một số lượng tế bào u cố định. Vì vậy khả năng điều trị khỏi sẽ càng lớn hơn nếu tổng thể tích u ban đầu càng nhỏ hoặc là điều trị hỗ trợ sau khi đã phẫu thuật hay xạ trị để lấy đi hay phá huỷ hầu hết các tế bào ung thư trên lâm sàng.

1.2. Sự kháng thuốc

Cũng giống như điều trị kháng sinh diệt khuẩn, tế bào ung thư có thể có khả năng kháng với các loại thuốc trong quá trình điều trị bằng nhiều hình thức. Khối u càng lớn, xác suất và khả năng kháng thuốc càng tăng. Vì vậy việc phối hợp đồng thời nhiều loại thuốc, việc điều trị sớm và điều trị bổ trợ làm tăng tính hiệu quả.

1.3. Kết hợp thuốc

Đặc tính của khối u là tế bào rất đa dạng. Khối u càng lớn tính đa dạng càng nhiều. Kinh nghiệm cho thấy dùng kết hợp nhiều loại thuốc hiệu quả hơn là dùng đơn độc. Dựa trên cơ chế tác dụng và hiệu quả của thuốc trên các giai đoạn khác nhau của chu kỳ tế bào để xây dựng cách kết hợp thuốc. Một số nguyên tắc áp dụng trong điều trị như sau:

  • Dùng phối hợp các thuốc có cơ chế tác dụng khác nhau.
  • Không phối hợp nhiều thuốc có cùng độc tính trên một cơ quan.
  • Dùng liều cao, từng đợt ngắn, ngắt quãng có hiệu quả hơn liều thấp kéo dài.
  • Không dùng loại hoá chất mà bản thân nó ít hiệu quả khi dùng đơn độc.

1.4. Phân phối thuốc

Muốn tăng hiệu quả điều trị, thuốc hoá chất phải đến được và tập trung càng cao càng tốt ở những nơi có tế bào u. ở những khối u lớn thường có những vùng kém máu nuôi dưỡng làm cản trở điều trị. Vì vậy, ngoài đường uống, tiêm tĩnh mạch, có thể ưu tiên phân phối nồng độ cao của thuốc vào một vùng cơ thể có khối u làm tăng khả năng thuốc tiếp xúc với tế bào u bằng cách truyền hoá chất vào động mạch (trong ung thư gan, một số ung thư đầu cổ) hoặc bơm vào các khoang (phúc mạc, phế mạc, bàng quang), nhờ đó làm tăng nồng độ thuốc tại chỗ mà giảm được ảnh hưởng toàn thân.

Thuốc hoá chất cũng còn được đưa trực tiếp vào khoang não tuỷ trong điều trị bệnh bạch cầu và một số u lympho ác tính, ung thư phổi tế bào nhỏ để ngăn ngừa di căn não.

1.5. Điều trị hoá chất liều cao

Điều trị hoá chất liều cao sát với liều chí tử mang lại hiệu quả điều trị cao nhất, nhưng nguy cơ tử vong do biến chứng cũng tăng lên, nhất là biến chứng nhiễm trùng do suy tuỷ và giảm bạch cầu kéo dài. Để hạn chế biến chứng, người ta tìm nhiều cách khắc phục:

  • Dùng thuốc đối kháng sau mỗi liều hoá chất (Axít folinic kháng Methotr- exate).
  • Ghép tuỷ xương: Lấy tuỷ xương tự thân  hoặc người cùng nhóm HLA cất giữ trước khi điều trị hoá chất liều cao để truyền lại sau điều trị.
  • Dùng các yếu tố tăng trưởng tạo huyết.

1.6. Yếu tố cơ thể người bệnh

Hầu hết các thuốc diệt ung thư đều có tác dụng độc hại với cơ thể. Những bộ phận bị tác dụng độc ảnh hưởng cũng là những cơ quan quan trọng như: Tuỷ xương, tim, gan, ống tiêu hoá, thần kinh. Vì vậy việc đánh giá thăm khám đầy đủ, tỷ mỷ các chức năng của cơ thể là rất cần thiết. Phải xem xét khả năng dung nạp, đào thải, biến chứng và xử lý biến chứng, độc tính của thuốc trong suốt quá trình điều trị, điều đó quyết định tiên lượng của việc điều trị ung thư.

1.7. Điều trị đa mô thức

Mục tiêu của điều trị ung thư là lấy đi hoặc diệt được toàn bộ tế bào ung thư trong cơ thể. Mỗi phương pháp điều trị ung thư: phẫu thuật, xạ trị hay điều trị toàn thân chỉ có thể có tác dụng tốt ở từng loại bệnh,  từng giai đoạn nhất định. Từ nhận thức đó, việc sử dụng hợp lý nhiều phương pháp điều trị là rất quan trọng. Điều trị toàn thân có thể được áp dụng đơn thuần có hiệu quả trong một số ít bệnh (u tế bào nuôi, một số u lympho, bệnh bạch cầu cấp)... nhưng trong nhiều trường hợp cần kết hợp với các phương pháp điều trị tại chỗ (phẫu thuật và xạ trị). Có khi điều trị hoá chất trước phẫu thuật hoặc xạ trị (ung thư vú, ung thư buồng trứng giai đoạn tiến triển, bệnh Hodgkin, u lympho...) có khi điều trị sau phẫu thuật và  xạ trị bổ trợ (ung thư vú, buồng trứng, ung thư xương, ung thư đại trực tràng, ung thư hắc tố, ung thư thận....). Người thầy thuốc ung thư sẽ cân nhắc các dữ kiện về loại bệnh, giai đoạn lâm sàng, thể giải phẫu bệnh và tình trạng cơ thể của bệnh nhân mà xây dựng mục tiêu điều trị và phác đồ cụ thể cho từng bệnh nhân.

2. CÁC THUỐC CHỐNG UNG THƯ

Hiện nay có khoảng hơn 200 loại thuốc chống ung thư được sử dụng trên lâm sàng. Các thuốc chống  ung thư được phân loại theo nhiều cách, ở đây chúng tôi chỉ nêu các nhóm dược chất chống ung thư theo cơ chế hoạt động của chúng.

2.1. Phân loại các dược chất chống ung thư theo cơ chế hoạt động

Nhóm tác nhân

Mục tiêu

Cấu trúc hoá học

Các tác nhân ngăn chặn tổng hợp DNA bằng al - kyl hoá có nguồn gốc tổng hợp (các tác nhân alkyl hoá)

Liên kết chéo DNA

Nitrogen mustard

Ethyle limin

Sulfonic acid ester

Epoxide

Nitrosourea

Halogenated hexitol

Hợp chất platium

Kháng sinh kháng u

Xen giữa DNA làm đứt gãy DNA

Anthracyclin, Actinomycin D Mitomycin C, Bleomycin

Các kháng axit Folic, kháng Purin, kháng Pirimidin

Các ức chế tổng hợp protein và axit amin.

Các ức chế giai đoạn gián phân hình thoi

Ngăn cản hình thức thoi trong kỳ gián phân

Alkaloid nhóm vinca

Podophylin

Colchicin

Hỗn hợp

Không xác định

Alkylamin (HMM, PMM) *

Dacarbazin

Procarbazin

Các Taxane

Làm đông cứng các vi quản nội tế bào

Toxol, Taxotere

Các camptothecin

ức chế men topoisomerasa I

Camptothecin, CPT - 11

Các hormon

Androgen

Estrogen

Steroid

Progestin

Các thuốc tác dụng

Antiandrogen

Estrogen

Antisteroid

* HMM: Hexamethylmelamine;  PMM: Pentamethylmelamine

2.2. Các tác dụng phụ của thuốc chống ung thư

Cơ quan

Độc tính

Những thuốc liên quan

Tuỷ xương

Giảm bạch cầu

Giảm tiểu cầu

Hầu hết, trừ steroit

Bleomycin, L-Asparaginase

Đường tiêu hoá

Viêm miệng

Adriamycin, Bleomycin, Methotrexat, Actinomycin,

5-flurouracil

 

ỉa chảy

Liệt ruột

Methotrexat,  5-flurouracil Vincristin

Da

Xạm da

Rụng tóc

Bleomycin, Busulfan

Adriamycin, Cyclophosphamid Actionomycin D

Hệ thần kinh

Dị cảm, bệnh thần kinh ngoại vi

Điếc

Ngủ lịm (lơ mơ)

Vincristin, Vinblastin, Cis - Platium

Taxol

L-Asparaginase

Tim

Suy tim

(muộn về lâu dài)

Adriamycin, Daunomycin

Phổi

Viêm xơ (muộn)

Bleomycin, Busulfan, Methotrexat Cyclophosphamid

Tuỵ

Viêm tuỵ

L-Asparaginase

Tử cung

Chảy máu tử cung

Estrogen

Bàng quang

Viêm bàng quang

Cyclophosphamid

Gan

Chức năng gan không bình thường

L-Asparaginase, Mithramycin

Thận

Chức năng thận không bình thường

Methotrexat, Cisplatium Mithramycin

 

2.3. Khả năng của điều trị toàn thân

     Khoảng 20% có thể điều trị khỏi, 20% có thể kéo dài đáng kể cuộc sống, còn lại 60% ít kết quả hoặc không có kết quả. Điều trị bằng hoá chất đã mang lại cơ may khỏi bệnh hoặc sống thêm lâu dài ở một số u ác tính ở trẻ em trong những năm gần đây có cải thiện tốt, rõ rệt và điều trị hoá chất bổ sung ở người lớn cũng làm tăng mức độ khỏi bệnh cho một số loại ung thư, có thể tóm tắt trong bảng dưới đây:

Khả năng

Loại bệnh

Có thể chữa khỏi trên 50% bệnh nhân mặc dù đã có di căn xa

Ung thư tinh hoàn

Bệnh nhau thai

U lympho ác tính không Hodgkin thể giải phẫu bệnh không thuận lợi

Bệnh Hodgkin

Bệnh bạch cầu lympho cấp ở trẻ em (ALL)

Tăng mức độ khỏi bệnh khi điều trị toàn thân được phối hợp với điều trị tại chỗ

Ung thư vú

Ung thư đại trực tràng

U Wilms

U nguyên bào thần kinh

Sacôm xương

Sacôm Ewing

Ung thư buồng trứng

Giảm tổng khối u trong giai đoạn bệnh đã lan tràn, có thể có đáp ứng tốt và kết quả điều trị khỏi bệnh

Ung thư vú

Bệnh bạch cầu tuỷ cấp (AML)

Các u lympho ác tính không Hodgkin thể giải phẫu bệnh thuận lợi

Ung thư phổi tế bào nhỏ

Ung thư tuyến tiền liệt

Ung thư tế bào thận

Ung thư bàng quang

 

3. CÁC TÁC NHÂN NỘI TIẾT

     Điều trị ung thư bằng nội tiết đã được áp dụng từ lâu: Gần 2/3 ung thư tiền liệt tuyến di căn, 1/3 ung thư vú di căn điều trị nội tiết có tác dụng làm bệnh thoái lui và bệnh nhân sống thêm. Phần lớn ung thư nội mạc tử cung, một phần ung thư buồng trứng và một phần rất lớn ung thư giáp trạng cũng thu được những kết quả như vậy.

     Một số ung thư không liên quan đến nội tiết cũng mang lại kết quả tốt bằng sử dụng cortico - steroid (như bệnh bạch cầu và u lympho không Hodgkin), đồng thời cũng giúp cho việc giải quyết những hội chứng cận ung thư (syndrome paraneoplasique) như tăng canxi trong máu, đau, nôn, sốt và yếu sức.

     Các yếu tố nội tiết hay dùng là Estrogen, Progestogen, Androgen, Corti - costerroid, Thyroxine, Tamoxifene, Lentaron... Có thể dùng phẫu thuật hoặc  xạ trị nhằm mục đích điều trị nội tiết như cắt bỏ hoặc xạ trị tinh hoàn hay buồng trứng v.v... Những năm gần đây người ta chú ý đến phát hiện thể thụ cảm nội tiết (hormonal receptor) để đánh giá trước tiên lượng đáp ứng của bệnh khi dùng nội tiết hay hoá chất trong ung thư vú, nhưng đối với những ung thư khác thì chưa rõ kết quả.

Cách thức điều trị

Vị trí

khối u

Phương pháp cắt bỏ

Các hormon

Các kháng hormon thêm vào

Các chất khác

Tuyến tiền liệt

Cắt bỏ tinh hoàn

Cắt bỏ buồng trứng (cắt tuyến thượng thận)

Cắt bỏ tuyến yên

Estrogen

 

Progesteron

Progesteron

Androgen

 

Corticostrer oid

ức chế steroid

 

Antiandrogen

 

Antiandrogen

ức chế steroid

LH - HR

 

LH - HR

Nội mạc tử cung

Buồng trứng Tuyến giáp

Bệnh bạch cầu

U lympho

 

Progesteron

 

Progesteron

Hormon tuyến giáp

Corticosteroid

Corticosteroid

 

 

 

4. CÁC TÁC NHÂN ĐIỀU HOÀ ĐÁP ỨNG SINH HỌC

     Trong khoảng 20 năm gần đây những hiểu biết về hệ thống miễn dịch ngày càng tiến bộ, nhiều người đã sử dụng các phân tử có khả năng điều hoà hoạt động dựa trên chức năng miễn dịch trong điều trị ung thư và một số bệnh lý khác. Các chất miễn dịch không đặc hiệu có nguồn gốc sinh học như BCG và Corynebacterium barvum đã được sử dụng trên thực nghiệm và trên người. Các chất kích thích miễn dịch không đặc hiệu có nguồn gốc hoá học như leuvamison, LH1... cũng đang được nghiên cứu. Đánh giá tác dụng của các phương pháp điều trị này hiện nay còn chưa rõ ràng. Trong 10 năm gần đây các nhóm hợp chất mới đã chứng tỏ đóng một vai trò rõ rệt trong điều trị một số ung thư đó là:

· Các Interferon (INF)

Các Interferon là một nhóm hợp chất do các loại bạch cầu sản xuất ra, thực ra là một nhóm có 16 loại khác nhau về di truyền, các tác dụng cũng không đồng nhất. Có 3 loại Interferon chủ yếu là INF á, â và gama, trong đó INF á được sử dụng rộng rãi nhất và có hoạt tính rõ rệt trong bệnh bạch cầu tế bào tóc, bạch cầu mãn tính thể tuỷ, bệnh đa u tuỷ và  một số u lympho ác tính không Hodgkin; ngoài ra cũng có tác dụng giới hạn trong một số ung thư thận, ung thư hắc tố, sorcom Kaposi và một số ung thư biểu mô khác.

· Các Interleukin (IL)

Là sản phẩm của các lympho bào hoạt hoá và đóng vai trò trung tâm trong sự điều hoà các tế bào miễn dịch.

Trong nhóm này cần chú ý đến Interleukin 2 (IL2), IL2 đã được tạo ra bằng công nghệ gien và đã được sử dụng vào điều trị ung thư có hiệu quả trong một số ung thư biểu mô tế bào thận và ung thư hắc tố.

· Các kháng thể đơn dòng

Là sản phẩm của các tế bào lai tạo giữa tế bào lympho B và tế bào u tuỷ. Tế bào lai mang tính "bất tử" của tế bào tuỷ và mang khả năng sản xuất ra các kháng thể của tế bào lympho B. Người ta có thể tách riêng từng tế bào lai và nuôi riêng rẽ, mỗi tế bào sẽ nhân lên thành một dòng (Clôn) tế bào thuần khiết về mọi mặt kể cả tính đặc hiệu với một kháng nguyên. Các kháng thể đơn dòng có khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư trên cơ thể người và trên chuột mang ung thư thực nghiệm. Ngoài ra người ta còn gắn I 131 hoặc các thuốc chống ung thư vào các phần tử kháng thể đơn dòng và chúng sẽ gắn đặc hiệu với tế bào ung thư và tập trung tác dụng điều trị của thuốc hoặc chất phóng xạ lên tế bào ung thư. Việc gắn phóng xạ như vậy còn giúp cho việc phát hiện các vi di căn bằng phương pháp xạ ký.

· Các yếu tố tăng trưởng tạo huyết

Một nhóm chất tiết ra từ tế bào lympho và đại thực bào có tác dụng kích thích tăng trưởng tạo huyết, làm giảm các phản ứng phụ của việc điều trị hoá chất. Như: Yếu tố kích thích cụm bạch cầu hạt - đại thực bào (GMCF), yếu tố kích thích cụm bạch cầu hạt (G-CSG), và Erythropoietin (EPO) bình thường được chế tạo bởi tế bào của hệ thống lympho, đại thực bào các chất này kích thích sự trưởng thành của các bạch cầu hạt, đại thực bào hay sự tạo hồng cầu sau điều trị hoá chất liều cao. Nhờ đó giảm được các biến chứng, giảm nhu cầu truyền máu và hỗ trợ hữu ích cho bệnh nhân ung thư bên cạnh các thuốc nâng đỡ khác.

(Theo: Bài giảng ung thư đại cương- Nhà xuất bản Y học 2005)

ThS.BS. Trần Tuấn Sơn

 

Share: