NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ

10/08/2016

NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ BỆNH UNG THƯ

Trước hết chúng ta phải biết rằng: Ung thư cũng như nhiều bệnh khác, có thể chữa khỏi nếu bệnh được phát hiện sớm. Hiện nhiều nước đã chữa khỏi được trên 50% cho toàn bộ bệnh ung thư và có những bệnh đạt trên 80% (Ung thư rau, ung thư hạch hệ thống hodgkin....).

     Điều trị ung thư khác với điều trị các bệnh khác đó là: Ung thư có nhiều loại. Mỗi loại đều khác nhau về nguyên nhân, sự phát triển và tiên lượng. Do vậy phương pháp điều trị áp dụng cũng khác nhau, nó phải được chỉ định cụ thể trên từng trường hợp, song phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

1. NGUYÊN TẮC PHỐI HỢP

     Đặc tính của tổ chức và tế bào ung thư là phát triển mạnh tại chỗ, xâm lấn ra các vùng xung quanh, di căn xa vào hệ thống bạch huyết và các cơ quan. Vì thế để điều trị bệnh có hiệu quả, thường phải phối hợp nhiều biện pháp điều trị. Tất nhiên mỗi phương pháp đều có chỉ định điều trị riêng của nó, song ta có thể tóm tắt một cách ngắn gọn: Phẫu thuật là phương pháp điều trị tại chỗ, xạ trị là phương pháp điều trị tại vùng, hoá chất - nội tiết - miễn dịch là những phương pháp điều trị toàn thân.

     Mặt khác, phần lớn bệnh nhân đến viện khi bệnh ở giai đoạn muộn bệnh đã lan rộng việc điều trị một phương pháp không mang lại hiệu quả cao.

     Hơn thế nữa, sự đáp ứng của mỗi loại ung thư với từng phương pháp điều trị (kể cả trong một loại bệnh ung thư) cũng rất khác nhau. Vì vậy, sự phối hợp nhiều phương pháp điều trị với nhau càng trở nên cần thiết.

Vì những lý do trên, việc điều trị bệnh ung thư là công việc của một tập thể các thầy thuốc (còn gọi là các tiểu ban) thuộc nhiều chuyên  khoa sâu trong chuyên ngành ung thư. "Tiểu ban" này có thể gồm tối thiểu 4 chuyên khoa là đủ cho chẩn đoán và điều trị đa số các bệnh  ung thư đó là: Phẫu thuật viên, thầy thuốc xạ trị, thầy thuốc nội khoa và thầy thuốc khám ban đầu. Song cũng có thể được bổ sung thêm các thầy thuốc chuyên khoa khác như: Giải phẫu bệnh lý, tai mũi họng, Xquang, dinh dưỡng... Tập thể thầy thuốc này sẽ bàn bạc thảo luận, phối hợp cùng nhau chẩn đoán, xây dựng và thực hiện phác đồ điều trị thích hợp, hoàn chỉnh, kể cả  việc theo dõi bệnh nhân sau điều trị.

     Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thấy rõ ràng: Chỉ ở những Trung tâm chống ung thư hoặc các khoa ung thư mới có thể thành lập được những tiểu ban này. Ở nhiều địa phương và các trung tâm y tế không đủ các thầy thuốc chuyên khoa ung thư thì việc phải gửi bệnh nhân lên tuyến trên, hoặc hội chẩn với thầy thuốc chuyên ngành ung thư là những giải pháp thực hiện tốt nhất, có lợi nhất cho người bệnh.

2. PHẢI XÁC ĐỊNH RÕ MỤC ĐÍCH ĐIỀU TRỊ

     Muốn thực hiện được nguyên tắc này, vấn đề cốt lõi là phải có được chẩn đoán cụ thể, xác định cho từng bệnh nhân. Chẩn đoán đó bao gồm:

- Chẩn đoán loại bệnh ung thư nguyên phát

- Chẩn đoán chính xác bằng giải phẫu bệnh lý có phân chia thành các nhóm nhỏ với mức độ ác tính khác nhau. Chẩn đoán này giúp ta hiểu rõ bản chất và tiên lượng của tổ chức ung thư. Từ đó có chỉ định điều trị thích hợp cho mỗi người bệnh.

- Xác định cho dược giai đoạn bệnh: Việc xếp giai đoạn bệnh khác nhau với mỗi loại ung thư. Song cách xếp loại theo hệ thống TNM (T: khối u; N: hạch; M: di căn xa) của tổ chức chống ung thư quốc tế (UICC) là thông dung nhất. người thầy thuốc cần phải dựa vào thăm khám lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng để xếp giai đoạn bệnh.

- Không quên đánh giá tình trạng sức khoẻ chung của người bệnh. Bởi lẽ phần lớn các phương pháp điều trị ung thư đều phức tạp và gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ bệnh.

Chỉ có trên cơ sở chẩn đoán đúng, chính xác mới có thể xác định được mục đích điều trị bệnh.

Mục đích điều trị bệnh ung thư có thể là:

  • Triệt căn: Nhằm giải quyết tận gốc toàn bộ bệnh với hy vọng chưa khỏi bệnh, kéo dài đời sống và không để lại hậu quả điều trị cho người bệnh: Chỉ định này thường áp dụng đối với những trường hợp bệnh ở giai đoạn tương đối sớm, tổn thương còn khu trú.
  • Tạm thời: Với những bệnh ở giai đoạn muộn, chỉ định này nhằm làm cho bệnh nhân sống thêm trong một thời gian với chất lượng sống tốt nhất có thể đạt được.

3. LẬP KẾ HOẠCH ĐIỀU TRỊ

     Tiếp theo việc chẩn đoán và xác định mục đích điều trị, việc lập kế hoạch điều trị và chăm sóc bệnh nhân toàn diện, chi tiết trong từng giai đoạn có một vai trò quyết định, đảm bảo hiệu quả điều trị.

     Căn cứ vào những chẩn đoán đã có (Đặc biệt là dựa vào tiến triển của bệnh, cũng như chẩn đoán bệnh lý giải phẫu).

     Tập thể các thầy thuốc sẽ chọn lựa những phương pháp điều trị thích hợp, có hiệu quả để áp dụng cho từng bệnh nhân.

     Đối với  phần lớn các ung thư, sự phối hợp ba vũ khí chủ yếu: Phẫu thuật xạ trị - hoá trị luôn thích hợp và đưa lại hiệu quả cao. Tuy nhiên, cần phải tính toán đến trình tự thực hiện các phương thức điều trị nhằm đạt hiệu quả và giảm tối đa sự tổn thương các tổ chức lành tính.

     Một vấn đề nữa cũng cần phải quan tâm khi thiết lập kế hoạch điều trị đó là: Việc áp dụng phương pháp điều trị đầu tiên ở người bệnh, điều này nhiều khi quyết định thành công hay thất bại của cả quá trình điều trị.

     Khi có nhiều phương pháp điều trị cho ta kết quả như nhau. Việc chọn lựa các phương pháp điều trị cần dựa vào những hậu quả, những tổn thương mà phương pháp đó mang lại cho người bệnh. Tất nhiên là chúng ta phải chọn những phương pháp ít gây tổn thương nhất ở bệnh nhân.

4. BỔ SUNG KẾ HOẠCH ĐIỀU TRỊ

     Sau khi có kế hoạch điều trị, người thầy thuốc phải giải thích cho bệnh nhân và người nhà của họ thấy rõ lợi ích và trở ngại cũng như tiến trình của kế hoạch điều trị. Việc làm này nhằm mục đích tạo sự đồng tình và phối hợp của người bệnh để thực hiện kế hoạch điều trị đã đề ra.

     Trong quá trình thực hiện, nếu thấy trong kế hoạch có những điểm, những biện pháp điều trị không phù hợp hoặc bệnh có diễn biến bất thường thì phải bổ sung vào kế hoạch nhằm đưa lại hiệu quả điều trị cao nhất, tốt nhất cho người bệnh.

5. THEO DÕI SAU ĐIỀU TRỊ

     Ung thư là bệnh dễ tái phát và di căn sau điều trị. Khám, theo dõi sau điều trị là việc làm bắt buộc đối với bệnh nhân ung thư.

Mục đích theo dõi sau khi điều trị nhằm:

- Phát hiện và kịp thời sửa chữa những biến chứng do các phương pháp điều trị gây ra.

- Phát hiện sớm các tái phát ung thư

- Phát hiện những di căn ung thư và có hướng xử trí thích hợp.

     Trong 2 năm đầu sau điều trị phải khám định kỳ 2 - 3 tháng một lần. Trong những năm tiếp theo có thể khám 6 tháng một lần. Thời gian theo dõi càng kéo dài càng tốt, nếu có thể được cho toàn bộ cuộc sống của bệnh nhân sau này.

(Theo: Bài giảng ung thư đại cương- Nhà xuất bản Y học 2005)

ThS. BS. Lê Thu Hà