TIÊU CHẢY DO HÓA TRỊ LIỆU

16/04/2019

         Tiêu chảy là tác dụng phụ thường gặp của nhiều tác nhân hóa trị liệu. Hầu hết các thuốc gây tiêu chảy không nghiêm trọng; nhưng một số trường hợp cần phải giảm liều, thậm chí đe dọa tính mạng.

1.1.Một số tác nhân hóa trị liệu gây tiêu chảy

1.1.1. 5-Fluouracil (5-FU)

      5-FU làm hạn chế phân bào của các tế bào tiết dịch, dẫn đến tăng tỷ lệ các tế bào tiết dịch chưa trưởng thành so với tế bào ruột non trưởng thành có nhung mao. Thể tích dịch tại ruột non tăng vượt quá khả năng hấp thụ của đại tràng, dẫn đến tiêu chảy. 5-FU dùng tiêm bolus gây tiêu chảy nhiều hơn truyền tĩnh mạch kéo dài. Liều theo tuần gây tiêu chảy nhiều hơn liều theo tháng. Tiêu chảy thường gặp nhiều nhất khi 5-FU dùng kết hợp với leucovorin. Bệnh nhân nữ hay gặp hơn nam, nguyên nhân có thể do thiếu hụt men dihydropyrimidin dehydrogenase (DPYD), men đầu tiên trong chuỗi ba men tham gia vào quá trình chuyển hóa 5-FU.

1.1.2. Irinotecan

      Irinotecan thường gây ra tiêu chảy cấp tính (ngay sau khi dùng thuốc) hoặc tiêu chảy muộn phát sinh. Tác dụng phụ này là do irinotecan có cấu trúc tương tự acetylcholine. Tuy nhiên, tiêu chảy muộn lại không phải do giải phóng acetylcholine mà do sự kết hợp của nhiều yếu tố gây mất nhu động ruột và các yếu tố kích thích bài tiết gây nên độc tính trực tiếp cho niêm mạc ruột. Tiêu chảy muộn thường xảy ra ít nhất 24 giờ sau khi dùng thuốc, có thể đe dọa tính mạng; đặc biệt trong phác đồ phối hợp với 5-FU và leucovorin. Liều 3 tuần gây tiêu chảy nhiều hơn liều hàng tuần.

1.1.3. Capecitabin

      Capecitabine là tiền chất của 5-FU, khi dùng liều thông thường 2000mg/m2/ngày trong 14 ngày mỗi 21 ngày có nguy cơ tiêu chảy trên 30-40% bệnh nhân (mức độ nghiêm trọng 10-20% bệnh nhân)

​​​​​​​1.1.4. Một số tác nhân khác

      Taxan: Tỷ lệ tiêu chảy của docetaxel 19-47%; Tiêu chảy độ 3 từ 0-27%, đặc biệt bệnh nhân trên 65 tuổi. Paclitaxel liều 175-225 mg/m2 xảy ra tỷ lệ tiêu chảy khoảng 39% (3% ở mức độ 3 và 4); còn liều hàng tuần khoảng 3-7% tiêu chảy ở mức độ 3.

       Anthracyclin: Với dạng anthracyclin thông thường, tiêu chảy xảy ra không phổ biến (khoảng 15%). Nhưng ở dạng doxorubicin liposom lên đến 45%, trong đó 3% ở mức độ 3-4, đặc biệt chủ yếu ở người cao tuổi.

       Tần suất và mức độ nghiêm trọng của tiêu chảy của một số tác nhân hóa trị liệu được trình bày trong Bảng 1.

Bảng 1. Tần suất và mức độ nghiêm trọng của tiêu chảy của một số

tác nhân hóa trị liệu

STT

Tác nhân hóa trị liệu

Tỷ lệ gặp mức độ 3 và 4 (%)

 

1

CapeIRI (capecitabin/irinotecan)

47

2

FOLFOXIRI (fluorouracil/leucovorin/oxaliplatin/irinotecan)

20

3

mIFL (irinotecan/fluorouracil)

19

4

Bolus fluorouracil và acid folinic

16

5

Irinotecan và fluorouracil và acid folinic

15

6

Docetaxel và capecitabin

14

7

FOLFIRI (fluorouracil/leucovorin/irinotecan)

14

8

FLOX (fluorouracil/leucovorin/oxaliplatin)

10

 

       Tần suất và mức độ tiêu chảy của một số tác nhân nhắm trúng đích phân tử được trình bày trong Bảng 2.

Bảng 2. Tần suất và mức độ tiêu chảy  của một số tác nhân nhắm trúng đích phân tử

STT

Phân nhóm

Hoạt chất

Tỷ lệ tiêu chảy (%)

Tỷ lệ tiêu chảy mức độ 3 và 4 (%)

 

1

Kháng EGFR

Gefinitib

26–52

1–5

Erlotinib

18–57

3–6

Afatinib

18–57

3–6

Cetuximab

13–28

4–28

Panitumumab

21

8–20

2

Kháng HER2

Lapatinib

47–75

3–14

Trastuzumab

2–63

2–6

Pertuzumab

67

5–8

3

Kháng VEGF

Bevacizumab

20

2–7

Aflibercept

58–69

13–19

4

Ức chế Tyrosine kinase nhiều đích

 

Imatinib

20–26

1

Pazopanib

52

4

Sunitinib

44–55

5–8

Sorafenib

43–55

2–8

Regorafenib

34–40

5–8

Cabozantinib

64

12

5

Kháng mTOR

Everolimus

30

1–3

Temsirolimus

27

1

 

​​​​​​​1.2. Kiểm soát tiêu chảy trên bệnh nhân sử dụng thuốc điều trị ung thư

Hình 1. Kiểm soát tiêu chảy trên bệnh nhân sử dụng thuốc điều trị ung thư

 

DS. Bạch Văn Dương

Khoa Dược – Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

Bossi P., Antonuzzo., et al. (2018), “Diarrhoea in adult cancer patients: ESMO Clinical Practice Guidelines”, 29 (4) pp. iv126–iv142