UNG THƯ BIỂU MÔ KHOANG MIỆNG

06/09/2017

     Ung thư biểu mô khoang miệng (UTBMKM) là một trong những ung thư biểu mô đường hô hấp, tiêu hoá trên. Khoang miệng bao gồm: Lưỡi di động, sàn miệng, lợi hàm dưới, lợi hàm trên và vòm miệng phần cứng, niêm mạc má trong, khe liên hàm, môi dưới, môi trên và mép.

     Ung thư biểu mô khoang miệng (UTBMKM) là một trong những ung thư biểu mô đường hô hấp, tiêu hoá trên. Khoang miệng bao gồm: Lưỡi di động, sàn miệng, lợi hàm dưới, lợi hàm trên và vòm miệng phần cứng, niêm mạc má trong, khe liên hàm, môi dưới, môi trên và mép.

     Ung thư miệng chiếm từ 5-10% tổng số các loại ung thư và chiếm 2-3% tổng số các bệnh nhân tử vong trong ung thư.Nhóm đàn ông trên 40 tuổi dễ phát triển ung thư miệng.Việt Nam tỉ lệ ung thư miệng ở nữ giới cao có thể do ăn trầu thuốc.Ung thư lưỡi thường gặp nhiều trong ung thư miệng.

     Ung thư miệng chiếm từ 5-10% tổng số các loại ung thư và chiếm 2-3% tổng số các bệnh nhân tử vong trong ung thư.

     Nhóm đàn ông trên 40 tuổi dễ phát triển ung thư miệng.

     Việt Nam tỉ lệ ung thư miệng ở nữ giới cao có thể do ăn trầu thuốc.

CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY UNG THƯ MIỆNG

Các nguyên nhân gây ung thư miệng chưa được xác định rõ nhưng các yếu tố sau có thể là chủ yếu:

- Hút thuốc lá và uống rượu trong một thời gian dài

- Niêm mạc miệng luôn bị kích thích bới một chiếc răng nhọn hoặc đôi khi do xương cá đâm vào.

- Niêm mạc miệng bị tác động do ăn trầu thuốc sau một thời gian dài.

- Ánh nắng là yếu tố quan trọng gây ung thư môi.

NHỮNG DẤU HIỆU BÁO TRƯỚC UNG THƯ KHOANG MIỆNG

- Bất kì điểm sùi hoặc loét nào ở lưỡi, niêm mạc má hay lợi đã được điều trị 2 tuần mà không khỏi.

- Các điểm có mầu trắng hoặc đỏ ở trong miệng hoặc trên môi.

- Có một điểm sưng tấy hoặc nổi một u ở bất kì điểm nào trong miệng hoặc ở cổ.

- Cảm thấy khó khăn, trở ngại trong việc nói và nuốt.

- Có những tổn thương bị tái phát nhiều lần trong miệng.

- Bị tê dại hoặc mất cảm giác ở bất cứ điểm nào trong miệng.

- Hầu hết các bệnh nhân bị ung thư miệng không có cảm giác đau ở giai đoạn sớm. Triệu chứng đầu tiên thường là cảm giác khó chịu do kích thước của khối u gây ra.

Sinh thiết rất cần cho chẩn đoán: Gây tê, nếu khó khăn phải phải gây mê để sinh thiết nhất là những trường họp u thâm nhiễm hoặc khi u ở sâu.

- Khám hệ hạch: Sờ nắn hệ thống hạch cổ, hạch dưới hàm, hạch dưới cằm.

Khám cả hai bên cổ phát hiện hạch sờ thấy và ghi nhận các vị trí hạch.

- Khám toàn thân: Phát hiện di căn, các ung thư phối hợp hoặc với các bệnh khác đánh giá khả năng điều trị tuỳ theo từng bệnh nhân.

- Chụp Xquang thông thường: này được dùng để phát hiện tổn thương xâm lấn xương, hay xâm lấn sâu

- Chụp phim cắt lớp hay cộng hưởng từ: Để phát hiện những khối u xâm lấn vào các cơ lưỡi hoặc ở các vị trí khó khám bằng lâm sàng.

ĐIỀU TRỊ

     Điều trị hệ thống hạch cổ là một yếu tố quan trọng trong việc tiên lượng quá trình tiến triển của ung thư biểu mô khoang miệng nói riêng và ung thư biểu mô đường hô hấp , tiêu hoá nói chung. Thái độ điều trị phụ thuộc vào 2 yếu tố:

Sự xâm lấn hạch và  Khối u nguyên phát

- Đối với trường hợp tổn thương nguyên phát được điều trị bằng tia xạ, tuỳ tình huống có thể kèm theo phẫu thuật lấy hạch còn lại sau hai tháng điều trị tia xạ.

- Trong các trường hợp u có kích thước lớn, phát triển nhanh mà không có thể phẫu thuật rộng ngay được, người ta dùng hoá chất toàn thân hay hoá chất động mạch nhằm giảm thể tích và sự phát triển của khối u. Sau đó người ta tiến hành phẫu thuật cắt bỏ rộng u còn lại sau khi điều trị hoá chất.

ThS.BS. Đàm Trọng Nghĩa