UNG THƯ LƯỠI

10/02/2017

Ung thư lưỡi là ung thư thường gặp nhất trong các ung thư vùng khoang miệng, chiếm tỷ lệ 30-40%, bệnh hay gặp ở nam giới trên 50 tuổi.

     Ung thư lưỡi là ung thư thường gặp nhất trong các ung thư vùng khoang miệng, chiếm tỷ lệ 30-40%, bệnh hay gặp ở nam giới trên 50 tuổi.        

     Tuổi: thường gặp ở độ tuổi từ 50-60 tuổi. Giới: namlnữ = 3/1.

     Tại Pháp ung thư khoang miệng chiếm từ 11-16% ung thư ở nam giới, khoảng 75% ung thư khoang miệng gặp ở nam giới và trong đó 18% là ung thư lưỡi. Tại Mỹ hàng năm có khoảng 7.100 trường hợp ung thư lưỡi mới mắc. Ấn Độ là nước có tỷ lệ mắc ung thư lưỡi cao nhất.

   Theo ghi nhận ung thư của Hà nội năm 1995-1996 cho thấy tỷ lệ mắc ung thư khoang miệng ở nam: 2,9/100.000 dân/ năm, Ở nữ: 2,7/100.000 dân/năm. Theo ghi nhận ung thư của thành phố Hồ Chí Minh năm 1997 cho thấy tỷ lệ mắc ung thư khoang miệng ở nam là 4,0/100.000 dân/năm, ở nữ là 2,7/100.000 dân/năm.

BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

- Thường người bệnh có cảm giác như có dị vật hoặc xương cá cắm vào lưỡi rất khó chịu nhưng qua đi nhanh. Giai đoạn toàn phát được phát hiện do đau khi ăn uống, đau kéo dài gây khó khăn khi nói.

- Toàn thân: Sốt do nhiễm trùng, không ăn được nên cơ thể suy sụp rất nhanh.

  • Đau: tăng lên khi nói, nhai và nhất là khi ăn thức ăn cay, nóng, đôi khi đau lan lên tai.
  • Tăng tiết nước bọt.
  • Chảy máu: nhổ ra nước bọt lẫn máu.
  • Hơi thở hôi thối: do hoại tử tổn thương gây ra.
  • Một số trường hợp gây khít hàm, cố định lưỡi khiến bệnh nhân khó nói và nuốt.

- Khám lưỡi: Tìm thấy ở lưỡi có một điểm nổi phồng lên với sự thay đổi màu sắc, niêm mạc trắng, xơ hoá hoặc tổn thương là vết loét nhỏ. Sờ thấy tổn thương chắc, rắn, không mềm mại như bình thường. Muộn hơn là ổ loét ở lưỡi, trên ổ loét phủ giả mạc dễ chảy máu, loét phát triển nhanh, lan rộng làm lưỡi bị hạn chế vận động, không di động được.

     Thương tổn thường sùi loét, được tạo thành từ một vết loét không đều ở đáy có mủ, máu, bờ nham nhở, chảy máu khi va chạm. Đôi khi không có dấu hiệu loét đó là một nhân lớn gắn chặt xuống lớp dưới, nhô lên dưới lớp niêm mạc căng nhẵn, có màu tím nhạt, lớp niêm mạc lỗ rỗ những lỗ nhỏ, khi ấn vào sẽ làm rỉ ra một chất trắng, sản phẩm của hoại tử ở phía dưới.

- Khám hạch: Xuất hiện sớm, khoảng 50% bệnh nhân có hạch ngay từ đầu. Hạch hay gặp là hạch dưới cằm, dưới hàm, cảnh cao. Khả năng di căn hạch vùng từ 15%-75% tuỳ thuộc vào độ xâm lấn của u nguyên phát.

- Ba loại thương tổn:

  • Thể nhú sùi: Tạo thành thương tổn hình đồng xu, màu ghi hồng, sờ vào thấy mềm và không thâm nhiễm
  • Thể nhân: Tạo thành một nhân nhỏ cứng, nằm dính dưới niêm mạc, niêm mạc hơi bị đội lên, đôi khi mất nhẵn bóng hoặc vỡ ra
  • Thể loét: là một đám loét rất nông khó nhận thấy, giới hạn không rõ, được bao bọc bởi một vùng đỏ xung huyết, tổn thương này thường đau và không thâm nhiễm

     Người bệnh thường đến khám để xin nhổ răng gây tổn thương loét ở bờ lưỡi. Việc thăm khám phải kỹ càng để tìm bằng chứng và nguyên nhân của ung thư; nhổ răng bắt buộc phải kiểm tra lại sau 10 ngày vì nếu chỉ là một chấn thương đơn thuần thì tổn thương sẽ liền sẹo, còn nếu không thì chắc chắn là có tính chất u.

CÁC XÉT NGHIỆM

- Chọc hút hạch bất thường ở cổ bằng kim nhỏ để tìm tế bào ác tính tại hạch hoặc tìm tế bào ác tính tại tổn thương ở lưỡi bằng áp lam. Xác định chẩn đoán bằng mô bệnh học qua mảnh sinh thiết tại u trước khi điều trị.

- Chụp xương hàm dưới: đánh giá tổn thương xâm lấn xương. Chụp tim phổi: đánh giá di căn.

- Siêu âm , Chụp CT - Scanner và MRI: Đánh giá xâm lấn mô xương, phần mềm xung quanh và hạch cổ.

- Xạ hình toàn thân: Phát hiện di căn xa

ĐIỀU TRỊ

- Phẫu thuật đóng vai trò quan trọng trong điều trị bệnh ung thư lưỡi với mục đích điều trị triệt căn cần phải phẫu thuật rộng để lấy hết tổ chức ung thư đôi khi sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sống của người bệnh: ảnh hưởng đến thẩm mỹ, chức năng nhai, nuốt, nói. . . của bệnh nhân.

- Tuỳ theo tình trạng bệnh nhân có thể mổ rộng rãi: Cắt nửa lưỡi, cắt nửa sàn miệng, cắt xương hàm dưới có hoặc không tạo hình sàn miệng bằng vạt da cơ có cuống mạch máu nuôi và vét hạch cổ.

Giai đoạn muộn hơn thì điều trị hóa trị trước phẫu thuật nhằm mục đích thu nhỏ kích thước u sau đó cắt nửa lưỡi và vét hạch cổ.

- Xạ trị áp dụng trong các trường hợp giai đoạn muộn không còn chỉ định phẫu thuật. Mục đích của xạ trị là phân bố một liều xạ để điều trị triệt căn khối u và hạch, không gây ra các chứng biến nặng cho người bệnh.

 

ThS.BS. Đàm Trọng Nghĩa