Slogan

VAI TRÒ VÀ CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI

Ung thư phổi là gì?

Ung thư phổi (UTP) hay ung thư phế quản là thuật ngữ để chỉ bệnh ác tính của phổi xuất phát từ biểu mô niêm mạc phế quản, tiểu phế quản, phế nang, các tuyến của phế quản, hoặc các thành phần khác của phổi.

Ung thư phổi là một trong 3 bệnh ung thư thường gặp nhất và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư ở phạm vi toàn cầu. Theo GLOBOCAN 2012, tại Việt Nam, ung thu phổi đứng hàng thứ nhì chỉ sau ung thư gan với tỉ lệ mắc chuẩn theo tuổi ở cả hai giới là 25,2. Bệnh thường gặp ở nam giới, với tỉ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 41,1 ở nam và 12,2 ở nữ giới, ước tính mỗi năm có khoảng 22.000 trường hợp mới mắc (16.000 nam và 6.000 nữ) và tử vong khoảng gần 19.600 bệnh nhân.

Ung thư phổi được chia thành hai loai chính là ung thư phổi tế bào nhỏ (small cell lung cancer) - chiếm khoảng 10-15% và ung thư phổi không tế bào nhỏ (non small cell lung cancer) - chiếm khoảng 85%.

Tỷ lệ tử vong do ung thư phổi cao do bệnh thường được chẩn đoán vào giai đoạn tiến xa nên cần tăng cường hiệu quả hoạt động tầm soát, phát hiện sớm ung thư phổi. Gần đây, chụp cắt lớp điện toán xoắn ốc năng lượng thấp được chấp thuận như biện pháp tầm soát cho đối tượng nguy cơ cao (hút thuốc lá nhiều năm trên 30 gói/năm)

Các phương pháp điều trị ung thư phổi gồm có phẫu thuật, xạ trị, hóa trị và điều trị đích. Tùy vào giai đoạn bệnh mà chúng ta sẽ lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

Vai trò và chỉ định phẫu thuật trong điều trị ung thư phổi

Vai trò

Theo phác đồ điều trị của Mạng lưới ung thư toàn diện quốc gia của Hoa Kỳ (NCCN), phẫu thuật là phương pháp lựa chọn đầu tiên và cơ bản khi bệnh ở giai đoạn sớm (giai đoạn còn khu trú, giai đoạn I, II, IIIA). Vai trò và mục đích của phẫu thuật là loại bỏ triệt để khối u và các hạch di căn trong lồng ngực, ngăn chặn xâm nhiễm cục bộ và di căn xa, làm giảm bớt hoặc mất các triệu chứng lâm sàng phát sinh do khối u gây ra, tạo điều kiện thuận lợi cho các phương pháp điều trị bổ trợ khác.

Yêu cầu của phẫu thuật triệt để bao gồm việc cắt trọn thùy phổi mang khối u đạt diện cắt âm tính và vét hạch vùng hệ thống theo bản đồ ở các chặng N1, N2. Đôi khi cần thiết cắt hai thùy kế cận hoặc một bên phổi.

Các phương pháp phẫu thuật gồm:

- Cắt theo giải phẫu chuẩn:

+ Cắt một thùy phổi: Là cắt theo giải phẫu chuẩn của thùy phổi, phẫu tích theo rãnh liên thùy tới sát rốn phổi, kiểm soát các động mạch, tĩnh mạch, phế quản thùy phổi đã dự định. Áp dụng khi khối u còn nằm khu trú trong một thùy giải phẫu.

+ Cắt hai thùy phổi: Là cắt theo giải phẫu cả hai thùy phổi khi tổn thương xâm lấn qua rãnh liên thùy sang thùy phổi kế cận. Áp dụng cho bên phổi phải bao gồm cắt thùy trên hoặc thùy dưới cùng với thùy giữa

+ Cắt phổi: Là cắt toàn bộ một lá phổi theo phân chia của động mạch phổi chính, cắt tĩnh mạch phổi trên và tĩnh mạch phổi dưới, cắt phế quản gốc đến sát mức carina.

- Cắt không theo giải phẫu chuẩn (cắt không điển hình):

+ Cắt phân thùy phổi

+ Cắt góc nhu mô phổi (cắt Wedge, cắt hình chêm)

+ Cắt rìa: Cắt quanh khối u với diện cắt an toàn R0

Hiện nay các phương pháp cắt phổi không điển hình ít được áp dụng do không đảm bảo được tính triệt căn của phẫu thuật và tỷ lệ tái phát cao. Chỉ áp dụng trong một số ít các trường hợp chức năng thông khí phổi thấp, giai đoạn sớm khi kích thước u < 3cm ở ngoại vi chưa xâm lấn nhu mô xung quanh, tổn thương có độ biệt hóa cao hoặc khối u phổi thứ phát, vì vậy vấn đề nạo vét hạch không được đề cập.

- Phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi nạo vét hạch và cắt qua robot:

Phẫu thuật nội soi lồng ngực có hỗ trợ của video (Video Assisted Thoracic Sugery: VATS) và cắt qua robot thường được áp dụng cho các tổn thương nhỏ và vừa ở ngoại biên, không hoặc ít hạch vùng. Đây là các kĩ thuật can thiệp ít xâm lấn với các ưu điểm thời gian nằm viện ngắn, ít đau sau mổ, bệnh nhân hồi phục nhanh nhưng cần chọn lọc bệnh nhân kĩ lưỡng hơn. VATS cho các kết quả sống còn và tỉ lệ tái phát thấp tương đương như phẫu thuật cắt thùy mở. Kỹ thuật cắt qua robot cũng cho kết quả ban đầu hứa hẹn với ít di chứng và kết quả lâu dài về mặt ung bướu học tương đương.

Phẫu thuật nội soi cắt u phổi

Chỉ định phẫu thuật

Bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I, II, IIIA

- Giai đoạn I (T1, T2 N0): Phẫu thuật cắt thùy phổi, T1a có thể cắt phân thùy (hoặc trong trường hợp bệnh nhân già yếu).

- Giai đoạn II :

+ T1,2 N1 : Cắt thùy phổi và vét hạch

+ T3N0:

o U ở đỉnh phổi, xâm lấn xương sườn, cột sống. Phẫu thuật cắt thùy phổi và thành ngực bị xâm lấn.

o U gần sát carina: Phẫu thuật cắt toàn bộ 1 bên phổi hoặc cắt tạo hình phế quản.

o U xâm lấn trung thất: phẫu thuật kết hợp hóa hay xạ trị.

o U di căn trong cùng 1 thùy phổi: Cắt thùy phổi và vét hạch

- Giai đoạn IIIA:  T3N1; T1,2 N2 ; T4N0,1

+ Không xác định được N2 trước phẫu thuật: nếu u cắt được trong lúc phẫu thuật, phẫu thuật cắt thùy phổi, vét hạch

+ Xác định được N2 trước phẫu thuật: phối hợp đa mô thức: phẫu thuật, hóa, xạ.

+ T4: tổn thương carina: phẫu thuật cắt toàn bộ 1 bên phổi, tạo hình khí quản.

Nhiều u 1 bên phổi: cắt thùy phổi, cắt toàn bộ 1 bên phổi. Xâm lấn các cơ quan lân cận, phẫu thuật trong 1 số trường hợp chọn lọc như: u phổi xâm lấn cột sống, tĩnh mạch chủ trên, thực quản, tâm nhĩ nhờ phối hợp với sử dụng máy tuần hoàn ngoài cơ thể.

Bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ chỉ phẫu thuật ở giai đoạn I và IIA (T1-2, N0, M0)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ngô Quý Châu (2008). Ung thư phổi, Nhà xuất bản y học, tr.28 – 160.

2. National Comprehensive Cancer Network (2021), "NCCN clinical practice guidelines in oncology Non-small cell lung cancer".

3. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung bướu – Bộ Y tế (2020) ( Ban hành kèm theo quyết định số 1514/ QĐ- BYT)

4. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ- Bộ Y tế (2018) ( Ban hành kèm theo quyết định số 4825/ QĐ- BYT)

Biên soạn: BS. Phạm Đắc Đông – Khoa Ngoại Theo yêu cầu

Kiểm duyệt: TS.BS. Phan Lê Thắng – Trưởng khoa Ngoại Theo yêu cầu

Share: