Bệnh viện ung bướu hà nội

- Nơi gửi gắm niềm tin và hy vọng!

Phẫu thuật cắt khối tá tụy: Giải pháp cho các khối u vùng đầu tụy – tá tràng

Phẫu thuật cắt khối tá tụy:  Giải pháp cho các khối u vùng đầu tụy – tá tràng

Nhập họ tên*

Số điện thoại*

Ngày khám*

Ghi chú (Không bắt buộc)

Đặt lịch

I. TỔNG QUAN

Vùng đầu tụy là khu vực có cấu trúc giải phẫu phức tạp với các cơ quan quan trọng và hệ thống mạch máu lớn đan xen, nhiều vòng nối. Khối u vùng đầu tụy có thể là các u lành tính của đầu tụy, tá tràng, đường mật hoặc các khối  ung thư biểu mô tuyến tụy, Ung thư biểu mô tuyến bóng Vater. Ung thư biểu mô tuyến của phần thấp ống mật chủ. Ung thư tá tràng.

Đối với các khối u tại vùng này tùy theo tình trạng khối u mà có phương pháp điều trị phù hợp, Đối với một số u lành như u nhú vater, Gist tá tràng, u cơ trơn tá tràng… những khối u lành tính có vị trí thuận lợi phương pháp điều trị thường là cắt u đơn thuần. Tuy nhiên đối với u ác tính hoặc khối u nằm ở vị trí phức tạp không thể cắt u đơn thuần thì cắt khối tá tụy là lựa chọn tốt nhất.

Phẫu thuật cắt khối tá tụy là một phẫu thuật lớn và phức tạp. Mục tiêu là cắt bỏ toàn bộ khối tá tràng, đầu tụy, đường mật chính, túi mật và một phần dạ dày. Phẫu thuật này đòi hỏi kỹ thuật phẫu tích các cơ quan liên quan đến nhiều mạch máu lớn trong ổ bụng và cần thực hiện nhiều miệng nối để lập lại lưu thông tiêu hóa. Ca phẫu thuật thành công đầu tiên được Whipple thực hiện trên người vào năm 1935.

Phẫu thuật này được chỉ định tuyệt đối khi khối u chưa di căn và còn khả năng cắt bỏ.

So với các phương pháp khác, phẫu thuật có ý nghĩa gì?

Đối với các tổn thương ung thư ở vùng đầu tụy, phẫu thuật cắt khối tá tụy là chỉ định điều trị triệt căn. Với sự tiến bộ của kỹ thuật, phẫu thuật này hiện nay được xem là tương đối an toàn và hiệu quả.

II. QUY TRÌNH THỰC HIỆN

Bệnh nhân phải chuẩn bị những gì trước khi phẫu thuật?

Trước khi tiến hành, bệnh nhân được đánh giá toàn diện để đảm bảo an toàn:

  • Khám lâm sàng và xét nghiệm máu, các xét nghiệm đặc hiệu với khối u.
  • Nội soi thực quản dạ dày tá tràng, đại trực tràng, sinh thiết tổn thương nếu có.
  • Chẩn đoán hình ảnh: Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) hoặc cộng hưởng từ (MRI) để đánh giá khả năng cắt bỏ khối u và mức độ xâm lấn.
  • Đánh giá dinh dưỡng: Khoảng 81,8% bệnh nhân có tình trạng suy dinh dưỡng.
  • Dự phòng: Một số bệnh nhân được tập thở trước mổ và thực hiện thuốc chống đông để dự phòng huyết khối tĩnh mạch.

Chuyện gì diễn ra trong khi Bác sĩ thực hiện phẫu thuật?

Phẫu thuật viên sẽ thực hiện các bước phức tạp:

1.     Mở bụng: Thường là đường trắng giữa trên rốn kéo dài xuống dưới rốn.

2.     Thăm dò ổ bụng: Đánh giá khả năng cắt u, tìm kiếm di căn.

3.     Giải phóng khối tá tụy.

4.     Cắt bỏ khối: Bao gồm cắt ngang hang vị dạ dày, cắt ngang eo tụy, cắt đôi ống mật chủ, thắt động mạch vị tá tràng, cắt đôi hỗng tràng. Khối tá tụy được lấy bỏ sát bờ phải, sau dưới tĩnh mạch mạc treo tràng trên. Trường hợp u xâm lấn mạch máu lớn có thể cần cắt nối mạch, tạo hình mạch máu nhằm đảm bảo mức độ triệt căn.

5.     Lập lại lưu thông tiêu hóa: Thực hiện các miệng nối quan trọng: tụy – ruột (hoặc tụy – dạ dày), vị – tràng, mật – ruột. Việc nối tụy với ống tiêu hóa được coi là một điểm yếu của phẫu thuật.

6.     Lau rửa và đặt dẫn lưu cạnh các miệng nối, sau đó đóng bụng.

Bác sĩ chuyên khoa nào có thể thực hiện phẫu thuật này?

Cắt khối tá tụy là một phẫu thuật lớn với tỷ lệ biến chứng còn tương đối cao. Phẫu thuật này cần phải được thực hiện bởi các phẫu thuật viên chuyên khoa tiêu hoác, chuyên khoa gan mật tụy có nhiều năm kinh nghiệm tại các bệnh viện chuyên khoa.

III. LỢI ÍCH/RỦI RO

Lợi ích của phẫu thuật cắt khối tá tụy

  • Cơ hội chữa khỏi bệnh: Phẫu thuật triệt căn (Whipple) là biện pháp cơ bản và hiệu quả nhất để điều trị ung thư vùng đầu tụy – tá tràng.
  • Kỹ thuật này an toàn tương đối và hiệu quả trong điều trị các bệnh lý vùng đầu tụy. Nhờ sự tiến bộ của gây mê hồi sức, dụng cụ phẫu thuật và trình độ phẫu thuật viên, tỷ lệ tử vong đã giảm đáng kể (3-5% tại các trung tâm lớn).

Biến chứng của phẫu thuật cắt khối tá tụy

Phẫu thuật cắt khối tá tụy là một phẫu thuật phức tạp và còn nhiều biến chứng sau mổ. Các biến chứng đặc thù và nguy hiểm nhất bao gồm:

  • Rò tụy (Pancreatic Fistula): Đây là biến chứng thường gặp và nguy hiểm nhất, Tỷ lệ rò tụy trong các nghiên cứu dao động từ 8% đến 25%. Hầu hết điều trị bằng dẫn lưu tại chỗ và thuốc, tuy nhiên một số trường hợp hoại tử lan rộng, viêm phúc mạc có thể cần phẫu thuật lại cắt toàn bộ tụy và dẫn lưu.
  • Chảy máu sau mổ: Tỷ lệ khoảng 5%, bao gồm chảy máu tiêu hóa và chảy máu trong ổ bụng.
  • Áp xe tồn dư: Gặp khoảng 4%.
  • Chậm lưu thông dạ dày ruột (Delayed Gastric Emptying): là tình trạng chậm lưu thông của thức ăn từ ruột xuống dạ dày có thể cần lưu sonde dạ dày lâu hơn bình thường.
  • Rò mật: Gặp khoảng 4,5%.

Phần lớn các biến chứng có thể được kiểm soát bằng điều trị nội khoa hoặc can thiệp tối thiểu.

IV. PHỤC HỒI VÀ TRIỂN VỌNG

Mất bao lâu để phục hồi sau phẫu thuật?

Thời gian nằm viện sau phẫu thuật cắt khối tá tụy thường dài hơn các phẫu thuật thông thường. Thời gian nằm viện thông thường từ 7 đến 14 ngày nếu không có tai biến biến chứng.

Người bệnh thường được khuyến khích vận động sớm điều này giúp phòng tránh các biến chứng như viêm phổi và loét tỳ đè, Cần tăng cường phục hồi sớm sau phẫu thuật (ERAS) bao gồm vận động sớm, tập thở và dinh dưỡng sớm. Bệnh nhân cần tái khám định kỳ theo lịch hẹn của bác sĩ để theo dõi sự phục hồi.

Đối với nhóm bệnh nhân ung thư vùng đầu tụy, kết quả phẫu thuật tỏ ra hiệu quả với thời gian sống trung bình sau mổ là 36 tháng. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm sau mổ là khoảng 38,9%.

Đối với các khối u ác tính sau phẫu thuật cắt khối tá tụy, tùy vào giai đoạn bệnh, giải phẫu bệnh học, các tính chất sinh học phân tử của khối u mà bệnh nhân sẽ được ra viện theo dõi hoặc hẹn tái khám, xét điều trị hóa chất, miễn dịch bổ trợ.

Bệnh nhân sau mổ nên điến viện để được khám khi xuất hiện các dấu hiệu bất thường như:

  • Sốt cao, ớn lạnh.
  • Nôn trớ, bí trung đại tiện
  • Đau bụng dữ dội hoặc đau tăng dần.
  • Vàng da, vàng mắt tăng lên.

Viết bài: ThS.BS. Lê Tuấn Anh - Khoa Ngoại Tổng hợp

Duyệt bài: BSCKII. Lê Văn Thành - Trưởng khoa Ngoại Tổng hợp