Bệnh viện ung bướu hà nội

- Nơi gửi gắm niềm tin và hy vọng!

Sẹo và vết thương

SẸO VÀ VẾT THƯƠNG

Các bệnh ung thư, các phương pháp điều trị ung thư và thủ thuật y khoa có thể gây ra các vết thương và sẹo. Hiểu biết về cách chăm sóc vết thương và sẹo có thể giúp quý vị phòng tránh được những vấn đề sức khỏe trong tương lai.

Nguyên nhân gây ra vết thương và sẹo là gì?

Các vết thương và sẹo liên quan đến bệnh ung thư hoặc phương pháp điều trị ung thư hầu hết thường do một vết mổ (vết cắt) tạo ra trong khi phẫu thuật, do chính khối u ác tính, hoặc do một vết thương không mong muốn. Bất cứ nguyên nhân nào trong số này cũng có thể gây ra những tổn thương thực thể trên da hoặc mô dưới da.

Vết mổ

Vết mổ có thể khác nhau phụ thuộc vào cách bác sĩ phẫu thuật đóng vết mổ hay vết cắt. Chỉ khâu, ghim phẫu thuật, băng dính, hoặc keo phẫu thuật có thể ảnh hưởng đến cách lành vết thương và thẩm mỹ. Cách thức đóng vết mổ được bác sĩ phẫu thuật áp dụng cũng sẽ phụ thuộc vào loại và vị trí phẫu thuật.

Vết thương ác tính

Nếu một khối u ác tính lan rộng đến bề mặt da, nó có thể phá vỡ tổ chức da và tạo ra một vết thương hở (vết loét) không lành được. Vết thương này được biết đến như một khối u sùi hoặc một vết thương ác tính. Những vết thương này thường không thể loại bỏ được bằng phẫu thuật và không lành được.

Vết thương liên quan đến việc điều trị

Xạ trị có thể gây ra những thay đổi nghiêm trọng trên da (được biết đến là viêm da do xạ trị). Nếu không được chăm sóc, viêm da do xạ trị có thể phát triển thành vết thương.

Vết thương không mong muốn

Vết thương không mong muốn có thể gây ra bởi một tổn thương thực thể không chủ ý như một vết cắt, vết chích, vết bầm tím, hoặc bỏng từ một vật khác. Các vết thương cũng có thể xảy ra do ngã, gãy xương, nhiệt, hóa chất, hoặc nguyên nhân khác.

Loét tỳ đè là một loại khác của vết thương không mong muốn thường gặp ở bệnh nhân ung thư.

Sẹo

Khi quý vị có một vết thương trên da hoặc mô, cơ thể sẽ tự nhiên tạo ra các sợi collagen để khép lại các khoảng trống và làm lành vết thương. Những sợi này hình thành nên mô sẹo.

Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng tới sự hình thành sẹo và diện mạo của một vết sẹo bao gồm loại da, vị trí vết thương, và các yếu tố cá nhân như tình trạng dinh dưỡng và hệ miễn dịch của quý vị hoạt động ra sao.

Các loại vết thương

Một số loại vết thương thường gặp nhất trên người bệnh ung thư bao gồm:

  • Vết thương sau phẫu thuật (đặc biệt là phẫu thuật vùng bụng)
  • Tổn thương hoặc loét do tỳ đè
  • Viêm mô tế bào (một loại nhiễm khuẩn da)
  • Tổn thương ung thư da
  • Vết thương do xạ trị
  • Vết thương thoát mạch (các loại hóa chất nhất định có thể gây tổn thương mô nghiêm trọng nếu thuốc rò rỉ ra ngoài tĩnh mạch trong khi truyền)
  • Nứt hậu môn (các vết xước nhỏ có thể trở thành áp-xe hoặc lỗ rò nếu bị nhiễm trùng; đây là vết thương thường gặp nhất trên người bệnh ung thư đại tràng và trực tràng)

Các loại sẹo

Hai loại sẹo chính là sẹo lồi và sẹo phì đại:

  • Sẹo phì đại phổ biến nhất. Loại sẹo này không lan rộng ra ngoài vết thương chính.
  • Sẹo lồi phát triển ra ngoài vết thương chính và ra xung quanh mô lành. Sẹo lồi có thể gặp ở bất cứ ai, nhưng hay gặp nhất ở người da đen và người gốc Á.

Hình ảnh 1: Sẹo lồi và sẹo phì đại (Nguồn merinco.com.vn)

Dấu hiệu và triệu chứng

Vết thương

  • Đau
  • Bầm tím và đỏ da
  • Da bị tổn thương hoặc đóng vảy
  • Vảy cứng, vảy đang bong hoặc vết cắt trên da
  • Chảy máu
  • Chảy dịch hoặc mủ
  • Ấm hoặc nóng ở vùng da bị tổn thương

Sẹo

  • Đau, ngứa, hoặc khó chịu (đặc biệt trong thời gian đầu của quá trình liền sẹo; cũng có thể làm hạn chế vận động)
  • Thay đổi cấu trúc da (có thể phẳng mịn, lồi hoặc hình răng cưa)
  • Thay đổi màu sắc da (thường sáng hoặc tối hơn vùng da lành xung quanh)

Điều trị vết thương

Có nhiều cách để chăm sóc vết thương. Phương pháp điều trị quý vị cần sẽ phụ thuộc vào nguyên nhân, loại, vị trí và mức độ nghiêm trọng của vết thương.

Dưới đây là một số phương pháp phổ biến nhất để điều trị vết thương cho người bệnh ung thư:

Kháng sinh

Nếu quý vị có một vết thương kèm theo sốt hoặc các dấu hiệu nhiễm trùng khác, kháng sinh hoặc các thuốc kháng khuẩn khác có thể được sử dụng.

Cắt lọc vết thương

Các vết thương bị nhiễm trùng hoặc mô hoại tử có thể cần được loại bỏ để vết thương có thể lành lại. Phương pháp này được gọi là cắt lọc vết thương. Có thể thực hiện cắt lọc bằng cách rửa (sử dụng dung dịch như nước hoặc nước muối vô trùng để rửa vết thương với áp lực thấp), cắt lọc bằng dụng cụ hoặc bằng các enzyme đặc biệt.

Đắp vết thương

Các vết thương sâu có vùng hở thường được đắp bằng các loại gạc hoặc vật liệu đặc biệt để giúp vết thương lành lại và tránh nhiễm trùng.

Các liệu pháp tại chỗ

Các cách điều trị đặc biệt chứa các yếu tố tăng trưởng, kháng sinh, kháng khuẩn, i-ốt, bạc, hoặc các liệu pháp khác có thể được dùng trực tiếp lên vết thương. Phương pháp này có thể giúp vết thương lành lại và tránh nhiễm khuẩn hoặc các vấn đề khác.

Các loại gạc

Các loại gạc thường được phủ lên vết thương sau khi vết thương được làm sạch, cắt lọc hoặc đắp thuốc. Việc này giúp vết thương mau lành, tránh nhiễm trùng, và bảo vệ vết thương. Các loại gạc có thể ẩm hoặc khô phụ thuộc vào loại vết thương. Gạc đắp vết thương thường được làm từ các chất liệu bọt biển (foam), polymer hấp thụ nước (hydrogels), hợp chất keo ưa nước (hydrocolloids), mật ong, i-ốt, silicon, và bạc.

Hình ảnh 2: Gạc foam – Gạc hydrogels – Gạc hydrocolloids (trái – phải)

Liệu pháp vết thương áp lực âm (NPWT)

Liệu pháp vết thương áp lực âm (thường được biết đến là thiết bị hút chân không vết thương) đôi khi được sử dụng sau phẫu thuật và cũng được sử dụng trên những vết thương lớn, không lành được.

Hình ảnh 3: Liệu pháp vết thương áp lực âm (Nguồn https://woundsinternational.com)

Liệu pháp oxy

Một số nghiên cứu đã chỉ ra liệu pháp oxy, như liệu pháp oxy tăng áp (HBOT), có thể giúp ích khi sử dụng kết hợp với các phương pháp trị liệu vết thương khác. Các vết thương lớn và không lành được, cũng như ghép hoặc vá da trong phẫu thuật có thể được hưởng lợi từ HBOT.

Điều trị sẹo

Điều trị sẹo phụ thuộc vào các triệu chứng của quý vị cũng như loại sẹo và mức độ nghiêm trọng của sẹo. Quý vị có thể được điều trị bằng một hoặc nhiều phương pháp trong số những phương pháp thường gặp này:

  • Băng dính hoặc thạch cao chứa corticosteroid (một loại băng dính đặc biệt được cắt vừa với hình dáng của vết sẹo)
  • Thuốc mỡ hoặc thuốc tiêm chứa corticosteroid
  • Liệu pháp băng ép bằng gạc hoặc vật dụng đặc biệt
  • Miếng gel được làm bằng silicon hoặc không chứa silicon để giữ ẩm cho vết sẹo và giảm căng tức
  • Liệu pháp laser trên vết sẹo đỏ và ngứa
  • Liệu pháp lạnh để giảm kích thước sẹo
  • Những loại hóa chất nhất định được tiêm vào mô sẹo để giảm hình thành sẹo và giảm căng tức
  • Phẫu thuật loại bỏ sẹo

Bí quyết quản lý vết thương và phòng ngừa sẹo

Quý vị có thể thực hiện các bước sau để quản lý vết thương và giúp phòng ngừa hoặc giảm thiểu sẹo:

Giữ vết thương sạch. Vết thương nhiễm trùng có nhiều khả năng gây ra sẹo xấu hơn

  • Nếu quý vị có một vết thương mới do một chấn thương không mong muốn, hãy rửa vết thương bằng xà bông và nước ấm.
  • Nếu quý vị đang có một vết thương cũ, hãy làm sạch vết thương mỗi ngày 1 lần bằng xà bông và nước nếu quý vị không được nhóm chăm sóc cung cấp các hướng dẫn khác.
  • Rửa tay sạch trước và sau khi thay băng. Sử dụng găng tay nếu được hướng dẫn.
  • Không bao giờ sử dụng lại băng gạc. Hãy hỏi về loại băng gạc và vật dụng có thể sử dụng được cho vết thương của quý vị.
  • Giữ băng gạc sạch và khô. Nếu băng gạc bị ướt hoặc bẩn, cần thay ngay.
  • Nếu quý vị có bất cứ loại thuốc được kê đơn nào, như kháng sinh, hãy dùng thuốc theo chỉ dẫn và dùng hết đầy đủ đơn thuốc.
  • Tránh tắm và bơi trong khi vết thương đang trong quá trình liền.

Phòng ngừa chảy máu quá nhiều và tổn thương thêm trong khi vết thương đang liền. Tình trạng này có thể làm tăng nguy cơ gây sẹo.

  • Nếu vết thương đang chảy máu, làm sạch vết thương kỹ và băng với áp lực trung bình bằng một miếng vải mát hoặc túi đá chườm cho đến khi ngừng chảy máu.
  • Cố gắng không dán băng dính ngay lên da. Trước tiên, dùng dung dịch sát khuẩn da, sau đó dán băng dính lên trên. Hoặc quấn gạc lên trên băng, sau đó dính cố định gạc.
  • Kiểm tra các vật dụng cần thiết cùng điều dưỡng hoặc dược sĩ
  • Tránh gãi hoặc chà sát vào vết thương. Không bóc vẩy trên vết thương.
  • Bảo vệ vết thương và sẹo tránh ánh nắng mặt trời và tia cực tím (UV), đặc biệt trước khi vết thương lành hoàn toàn. Hãy hỏi về các loại kem chống nắng dùng được trên vùng da có tổn thương.

Thúc đẩy quá trình lành vết thương. Đảm bảo sức khỏe và dinh dưỡng có thể giúp vết thương mau lành

  • Nếu quý vị không được cung cấp hướng dẫn khác, hãy giữ ẩm vùng da tổn thương. Sử dụng kem dưỡng ẩm không gây dị ứng như Vanicream, Aveeno, CeraVe, hoặc Eucerin.
  • Tránh kích ứng vùng da đang lành. Tránh mặc quần áo chật, dùng nước quá nóng và các sản phẩm có mùi hương hoặc hóa chất mạnh.
  • Ăn trái cây họ cam quýt, rau lá xanh, ngũ cốc nguyên hạt, thịt, cá, và trứng. Những thực phẩm này chứa protein, vitamin và khoáng chất rất quan trọng cho quá trình lành vết thương.

Khi nào cần báo cho bác sĩ hoặc nhóm chăm sóc ung thư

Thông báo cho bác sĩ hoặc nhóm chăm sóc ung thư nếu quý vị có:

  • Một vết thương mới
  • Chảy máu vết thương trong thời gian dài hoặc không ngừng khi đã băng ép
  • Một vết thương có viền tấy đỏ, nóng hoặc sưng
  • Đau nhiều hơn bình thường tại vị trí vết thương
  • Vết thương có mùi hôi
  • Vết thương chảy mủ vàng hoặc dịch màu xanh
  • Các dấu hiệu hay triệu chứng nhiễm trùng không rõ nguyên nhân

Nguồn: Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, www.cancer.org

Đường dẫn: https://www.cancer.org/cancer/managing-cancer/side-effects/hair-skin-nails/scars-and-wounds.html

Biên dịch: CNhĐD. Nguyễn Thị Hồng Vân, Khoa Nội tiêu hóa theo yêu cầu, Bệnh viện Ung bướu Hà Nội

Hiệu đính: THS.BS. Nguyễn Thanh Hằng, Phòng HTQT-NCKH

Gói khám tầm soát ung thư