- Ung thư vú cũng như các ung thư khác ở giai đoạn sớm phát triển một cách thầm lặng hầu như không gây ra triệu chứng nào cả. Nếu tầm soát phát hiện bệnh ở giai đoạn này tỷ lệ chữa khỏi có thể lên tới trên 90%.
- Còn khi bệnh đã phát triển xâm lấn, di căn thì thời gian điều trị, chi phí điều trị đều tăng lên nhưng thời gian sống lại giảm đi rất nhiều.
- Độ tuổi tầm soát phụ thuộc vào việc chúng ta đang ở nhóm nguy cơ cao hay nguy cơ trung bình:
Phụ nữ có một trong các yếu tố sau được xếp có nguy cơ cao:
- Trong gia đình có ít nhất một người quan hệ huyết thống bậc 1 (mẹ, chị/em
gái hoặc con gái) mắc UTV.
- Mang đột biến gen làm tăng nguy cơ UTV, ví dụ: BRCA1/2, PTEN, TP53,CDH1, PALB2, STK11.
- Tiền sử mắc UTV.
- Có tổn thương ung thư biểu mô tiểu thùy tại chỗ hoặc quá sản không điển hình.
- Có tiền sử xạ trị vùng ngực ở độ tuổi 10 đến 30.
Phụ nữ nguy cơ trung bình:
- Từ 25 đến 39 tuổi: Tự khám vú hàng tháng và khám lâm sàng 1-3 năm/lần.
- Từ 40 -70 tuổi: Sàng lọc 1 năm/lần gồm khám lâm sàng, chụp X-quang tuyến vú, kết hợp siêu âm với phụ nữ có mô vú đặc.
- Trên 70 tuổi: dừng sàng lọc khi tuổi thọ kỳ vọng dưới 10 năm hoặc phụ nữ mắc các vấn đề về sức khoẻ không thể thực hiện được các biện pháp điều trị ung thư vú.
Phụ nữ nguy cơ cao:
- Bắt đầu sàng lọc từ 25 tuổi với lịch sàng lọc 1 năm/lần, khám lâm sàng, chụp X-quang vú, có thể chụp cộng hưởng từ vú .

